“Chữa cháy” khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Trong quan hệ lao động, trên thực tế, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động với người lao động (“NLĐ”), vì nhiều lý do khác nhau mà người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) có thể ra đã ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định của Bộ luật Lao động hiện hành (“BLLĐ”).

Tùy từng trường hợp cụ thể, việc NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có thể khiến NSDLĐ bị Tòa án buộc phải thực hiện một số trách nhiệm đối với NLĐ theo quy định tại Điều 42 BLLĐ, trong đó bao gồm nghĩa vụ phải (i) bồi thường hai (02) tháng tiền lương; (ii) nhận NLĐ trở lại làm việc và thanh toán các khoản tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày NLĐ không được làm việc; (iii) bồi thường thêm ít nhất (2) tháng tiền lương nếu không nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý; (iv) trả trợ cấp thôi việc nếu NLĐ không muốn tiếp tục làm việc; và (v) thực hiện các nghĩa vụ khác.

Tuy nhiên, NSDLĐ vẫn có thể hạn chế một phần các nghĩa vụ nói trên sau khi đã lỡ ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với NLĐ. Sau đây là một vụ kiện thực tế giữa nguyên đơn là Bà Lê Ngọc Ánh (“Bà Ánh”) và bị đơn là Công ty TNHH Truyền thông AMC (“AMC”)[1] tại một Tòa án tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo đó, vào ngày 01/04/2015, Quản lý của AMC là Ông Lâm đã gửi email thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với Bà Ánh với lý do Bà Ánh không làm đúng công việc được giao. Sau một thời gian thương lượng nhưng không đạt kết quả, vào ngày 15/04/2015, AMC chính thức ra Thông báo 01 đơn phương chấm dứt hợp đồng với Bà Ánh (“Thông báo 01”), có hiệu lực ngay lập tức kể từ ngày ban hành. Tuy nhiên, đến ngày 21/04/2015, AMC lại ra một thông báo khác hủy Thông báo 01 và yêu cầu Bà Ánh quay trở lại làm việc vào ngày 27/05/2015.

Không đồng ý với yêu cầu của AMC, sau quá trình thương lượng và hòa giải bất thành, Bà Ánh đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu AMC bồi thường (i) hai (02) tháng tiền lương theo Điều 42.1 của BLLĐ và một (01) tháng tiền lương do AMC đã vi phạm nghĩa vụ báo trước; và (ii) tiền lương trong những ngày không được làm việc kể từ ngày 01/04/2015 đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Bà Ánh cho rằng theo Điều 40 của BLLĐ, việc hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải có sự đồng ý của NLĐ. Tuy nhiên, Tòa sơ thẩm cũng như Tòa cấp phúc thẩm (trong giai đoạn xét xử phúc thẩm) đều có quan điểm cho rằng mặc dù AMC đã đơn phương chấm dứt trái pháp luật, nhưng trên thực tế AMC đã có thông báo mời Bà Ánh quay trở lại làm việc theo đúng hợp đồng lao động đã ký, phù hợp với nghĩa vụ của NSDLĐ được quy định tại Điều 42.1 của BLLĐ.

Tòa các cấp cũng cho rằng trong trường hợp này Bà Ánh đã có thể quay lại làm việc và yêu cầu AMC bồi thường cho những thiệt hại đã xảy ra và việc quay trở lại làm việc của Bà Ánh làm giảm một phần hậu quả pháp lý của việc AMC đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật trước đó.

Dựa vào các lý do trên, Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của Bà Ánh và buộc AMC phải thanh toán cho Bà Ánh (i) hai (02) tháng tiền lương; và (ii) khoản tiền lương trong những ngày không được làm việc tính từ ngày 01/4/2015 đến ngày 27/05/2015, tức đến thời điểm AMC yêu cầu Bà Ánh quay trở lại làm việc sau khi đã hủy Thông báo 01.

Như vậy, thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy sau khi đã ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, NSDLĐ vẫn có thể hủy quyết định nói trên trong một thời gian hợp lý và yêu cầu NLĐ quay trở lại làm việc để có thể hạn chế các nghĩa vụ bồi thường phát sinh theo quy định của pháp luật lao động hiện hành.

 


[1] Tên người và công ty nêu tai đây chỉ cho mục đích của bài viết mà không viện dẫn hoặc đề cập đến bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào trên thực tế.