Thời hạn góp vốn khi thành lập công ty cổ phần – hiểu thế nào về thời hạn cam kết góp vốn theo thỏa thuận

Luật sư Lê Thanh Tùng

Luật sư Nguyễn Hữu Việt

Công ty Luật TNHH MTV DIMAC

Luật Doanh nghiệp 2014 yêu cầu các cổ đông của công ty cổ phần phải góp vốn trong vòng chín mươi (90) ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“Giấy CNĐKDN”) thành lập công ty cổ phần (“Thời hạn Góp vốn Tối đa”). Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng cho phép các cổ đông được thỏa thuận thời hạn góp vốn ngắn hơn Thời hạn Góp vốn Tối đa. 

Điều 112.1 của Luật Doanh nghiệp 2014 quy định “Các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn…”. Theo quy định này, các cổ đông của công ty cổ phần có thể thỏa thuận thời hạn góp vốn ngắn hơn Thời hạn Góp vốn Tối đa với điều kiện thỏa thuận này phải được thể hiện trong Điều lệ của công ty hoặc trong hợp đồng đăng ký mua cổ phần mà các cổ đông ký kết vào thời điểm thành lập.

Theo kinh nghiệm của DIMAC tư vấn và xử lý tranh chấp liên quan đến thỏa thuận thời hạn ngắn hơn Thời hạn Góp vốn Tối đa, chúng tôi cho rằng “thời hạn khác ngắn hơn” được hiểu là một khoản thời gian ngắn hơn so với thời hạn chín mươi (90) ngày kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy CNĐKDN.

Theo quy định tại Điều 112.2 của Luật Doanh nghiệp 2014, “Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua quy định tại khoản 1 Điều này, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công. Quy định này hàm ý về mốc thời hạn góp vốn được tính “từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpvà cũng được dùng để làm chuẩn cho việc tính toán thời hạn góp vốn cũng như xác định quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần.

Hơn nữa, trong trường hợp các cổ đông thỏa thuận việc hoàn tất góp vốn trong thời hạn trước khi công ty được cấp Giấy CNĐKDN, thì việc góp vốn này rất khó được ghi nhận và thực hiện trên thực tế bởi vào thời điểm đó, chưa có thể khẳng định chắc chắn công ty sẽ được phép thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền. Ngoài ra, các quy định của pháp luật hiện hành không có quy định hoặc hướng dẫn về cơ chế quản lý nguồn vốn góp của các cổ đông trước thời điểm doanh nghiệp được thành lập.

Trên thực tế, chúng tôi đã gặp những trường hợp các cổ đông thỏa thuận thời điểm góp vốn trong Điều lệ công ty trước cả thời điểm công ty được cấp Giấy CNĐKDN. Thỏa thuận này không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, và do đó, không có hiệu lực thi hành cho dù các bên có cam kết.

Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của mình khi cam kết góp vốn vào công ty, khi thỏa thuận thời hạn góp vốn ngắn hơn Thời hạn Góp vốn Tối đa, các cổ đông cần lưu ý một số điểm như sau:

 - Nên cam kết thời hạn góp vốn ngắn hơn luật định khi các cổ đông đảm bảo được năng lực tài chính của mình có thể đáp ứng được việc hoàn thành nghĩa vụ trong thời hạn đó;

 - Không nên thỏa thuận hoàn thành việc góp vốn trước hay vào đúng ngày công ty dự kiến được thành lập bởi rất khó kiểm soát được việc công ty có được thành lập vào đúng thời điểm đó hay không; và

 - Trường hợp không thể đáp ứng được nghĩa vụ góp vốn trong thời hạn ngắn hơn đã cam kết, nếu vẫn còn trong Thời hạn Góp vốn Tối đa theo luật định, các cổ đông nên xem xét tiến hành thỏa thuận lại để kéo dài thời hạn góp vốn đã thỏa thuận trong hợp đồng đăng ký mua cổ phần hoặc trong Điều lệ ban đầu đúng bằng Thời hạn Góp vốn Tối đa.