Nguyễn Danh Công – Luật sư Thành viên
Trương Nguyễn Thiên Long – Luật sư
Nguyễn Quang Thái – Luật sư Sơ cấp
Ngày 17/08/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 323/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp và chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (“Nghị định 323”).
Nghị định 323 thiết lập khung pháp lý chi tiết cho việc tiếp nhận, xử lý các vụ việc có nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác phòng ngừa, phối hợp liên ngành và giải quyết tranh chấp. Một số nội dung đáng chú ý đối với nhà đầu tư nước ngoài được tóm lược như sau:
1. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư trong công tác phòng ngừa tranh chấp
Điều 4 Nghị định 323 quy định một số trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư trong quá trình tiếp nhận, thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, hướng tới mục tiêu nhận diện và hạn chế các rủi ro pháp lý có thể dẫn đến tranh chấp trong quá trình triển khai dự án. Theo đó:
- Cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm hướng dẫn, cung cấp thông tin liên quan đến điều kiện tiếp cận thị trường, điều kiện đầu tư kinh doanh và các quy định pháp luật có liên quan đối với nhà đầu tư nước ngoài;
- Việc giải quyết thủ tục đầu tư phải được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định pháp luật; đồng thời hồ sơ, tài liệu liên quan phải được lưu trữ đầy đủ theo quy định; và
- Cơ quan có thẩm quyền thực hiện rà soát, theo dõi và giám sát quá trình triển khai dự án nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các khó khăn, vướng mắc hoặc các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp.
Các quy định này cho thấy xu hướng tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác phòng ngừa tranh chấp ngay từ giai đoạn chuẩn bị và triển khai dự án đầu tư.
2. Thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý phản ánh thông qua Cổng thông tin quốc gia về đầu tư
Điều 6 Nghị định 323 quy định cơ chế tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của nhà đầu tư nước ngoài thông qua Cổng thông tin quốc gia về đầu tư, với các nội dung đáng lưu ý như sau:
- Nhà đầu tư có thể gửi phản ánh, kiến nghị hoặc khiếu nại theo quy định pháp luật thông qua Cổng thông tin quốc gia về đầu tư. Cơ quan quản lý Cổng thông tin có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại và xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định;
- Trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết, trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý Cổng thông tin phải chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho Bộ Tư pháp cùng cơ quan địa phương có liên quan để phối hợp theo dõi;
- Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải phối hợp xử lý và cập nhật kết quả hoặc tiến độ giải quyết trên Cổng thông tin. Đối với các vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm, việc cập nhật phải được thực hiện định kỳ hoặc khi có diễn biến mới; và
- Trường hợp chưa đủ căn cứ để giải quyết hoặc vụ việc có dấu hiệu phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, cơ quan có thẩm quyền có thể đề nghị Bộ Tư pháp thực hiện đánh giá rủi ro tranh chấp. Nếu vụ việc vượt thẩm quyền hoặc đồng thời có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật, điều ước quốc tế về đầu tư và nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, cơ quan giải quyết phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo trình tự quy định.
Việc thiết lập cơ chế tiếp nhận và theo dõi trực tuyến được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường tính minh bạch trong quá trình xử lý các kiến nghị, phản ánh của nhà đầu tư. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khoản 1 Điều 6 Nghị định 323 quy định rõ việc tiếp nhận thông tin thông qua Cổng thông tin quốc gia về đầu tư không thay thế trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật. Theo đó, việc gửi phản ánh trên Cổng thông tin không mặc nhiên làm phát sinh hoặc bảo lưu các quyền tố tụng, thời hiệu khiếu nại hoặc các điều kiện tiền tố tụng theo điều ước quốc tế về đầu tư.
3. Quy định thời hạn xử lý đối với vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế
Điều 8 Nghị định 323 thiết lập quy trình xử lý đối với các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài gửi văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài liên quan đến tranh chấp đầu tư quốc tế.
Theo quy định này, các cơ quan nhà nước có liên quan phải thực hiện các bước xử lý theo các mốc thời hạn cụ thể, bao gồm việc tiếp nhận thông tin, đánh giá rủi ro, tổ chức phối hợp liên ngành và đề xuất phương án xử lý phù hợp.
Việc quy định các thời hạn bắt buộc có thể góp phần:
- Tăng cường tính minh bạch và khả năng dự báo trong quá trình xử lý vụ việc;
- Nâng cao trách nhiệm phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước; và
- Tạo cơ sở để xem xét các biện pháp tham vấn, đối thoại hoặc hòa giải trong giai đoạn trước tố tụng khi phù hợp.
4. Một số lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài
Trên cơ sở các cơ chế được thiết lập tại Nghị định 323, nhà đầu tư nước ngoài cân nhắc một số vấn đề sau:
- Bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và nhất quán của hồ sơ đầu tư ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án; đồng thời lưu giữ đầy đủ các tài liệu, trao đổi và quyết định hành chính liên quan trong suốt quá trình triển khai dự án;
- Trong trường hợp phát sinh khó khăn, vướng mắc hoặc khiếu nại liên quan đến hoạt động đầu tư, nhà đầu tư có thể cân nhắc sử dụng đồng thời các kênh tiếp nhận thông tin theo quy định, bao gồm Cổng thông tin quốc gia về đầu tư và các thủ tục hành chính hoặc khiếu nại chuyên ngành tương ứng; và
- Đối với các vụ việc có khả năng liên quan đến điều ước quốc tế về đầu tư hoặc có nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, nhà đầu tư nên chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và tài liệu chứng minh một cách đầy đủ nhằm phục vụ quá trình đánh giá, trao đổi hoặc tham vấn với cơ quan có thẩm quyền.
Nghị định 323 đánh dấu một bước hoàn thiện đáng chú ý trong khuôn khổ pháp lý về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam. Thông qua việc xác lập cơ chế phối hợp liên ngành, quy trình xử lý có thời hạn và kênh tiếp nhận thông tin tập trung, Nghị định 323 được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các rủi ro tranh chấp đầu tư, đồng thời tăng cường tính minh bạch và khả năng dự báo của môi trường đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài.


