News & library

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ CHO QUẢN LÝ KIẾN TRÚC TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

30/09/2026

Nguyễn Danh Công – Luật sư Thành viên

Lê Hữu Tiến – Luật sư Sơ cấp

Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kiến trúc ngày càng gắn chặt với quá trình đô thị hóa, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng môi trường xây dựng trong bối cảnh hiện nay, Quốc hội đã thông qua Luật số 19/2026/QH16 ngày 24/8/2026 (“Luật Kiến trúc sửa đổi 2026”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 (“Luật Kiến trúc 2019”), có hiệu lực từ ngày 01/3/2027. Với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kiến trúc, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo cơ sở phù hợp hơn cho hoạt động thiết kế, hành nghề và đầu tư xây dựng trong thực tiễn, Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 ghi nhận một số thay đổi đáng lưu ý như sau:

Cụ thể hóa yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc trong quản lý kiến trúc

Thay vì được xác định tương đối khái quát thông qua các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hóa, nghệ thuật, thuần phong mỹ tục, kỹ thuật và vật liệu xây dựng theo quy định hiện hành, Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 đã thay đổi cách tiếp cận về “bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc” theo hướng xác định bằng các tiêu chí cụ thể, có khả năng nhận diện và áp dụng trong thực tiễn quản lý, bao gồm khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình cần bảo tồn; đặc trưng về tổ chức không gian, chiều cao, mật độ xây dựng, vật liệu, màu sắc, hình thức kiến trúc; và yêu cầu kế thừa kiến trúc truyền thống. Việc xác định các yếu tố này đồng thời phải dựa trên cơ sở khoa học, điều tra, khảo sát thực tế và có sự tham gia của chuyên gia, cộng đồng, qua đó tạo cơ sở pháp lý cụ thể để địa phương nhận diện, bảo tồn và phát huy bản sắc kiến trúc trong quy chế quản lý kiến trúc.

Đẩy mạnh số hóa và ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động kiến trúc

Nhằm bảo đảm sự thống nhất với Nghị định 217/2026/NĐ-CP về quản lý hoạt động xây dựng có hiệu lực vào ngày 01/07/2026, Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 đã bổ sung yêu cầu ứng dụng công nghệ số và mô hình thông tin công trình (BIM) trong thiết kế kiến trúc và hồ sơ thiết kế kiến trúc, qua đó tăng mức độ số hóa trong quá trình lập, quản lý và khai thác dữ liệu công trình so với quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu hành nghề kiến trúc được tích hợp vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, tạo nền tảng cho việc quản lý và tra cứu thông tin hành nghề theo hướng tập trung, minh bạch và thuận tiện hơn.

Chuẩn hóa năng lực hành nghề kiến trúc

Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 thay đổi cách tiếp cận về quản lý hành nghề kiến trúc từ yêu cầu về chứng chỉ hành nghề tại Luật Kiến trúc 2019 sang hệ thống khung tiêu chuẩn năng lực gắn với phạm vi công việc và trách nhiệm của từng cá nhân. Theo đó, quy định mới làm rõ tiêu chuẩn năng lực hành nghề ở hai cấp độ: tiêu chuẩn tối thiểu về trình độ đào tạo phù hợp với công việc đảm nhận và tiêu chuẩn bắt buộc về chứng chỉ đối với các chức danh chủ trì, chủ nhiệm thiết kế và kiến trúc sư hành nghề độc lập. Các tiêu chuẩn này được cập nhật trên Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng và trở thành căn cứ pháp lý cho việc quản lý, kiểm tra, đánh giá năng lực hành nghề. Đồng thời, cơ chế công nhận tương đương đối với chứng chỉ được thừa nhận theo điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cũng được quy định cụ thể hơn, qua đó góp phần chuẩn hóa và nâng cao tính thống nhất trong quản lý hành nghề kiến trúc.

Mở rộng cơ chế lựa chọn phương án kiến trúc

Cơ chế lựa chọn phương án kiến trúc tại Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 được thiết kế linh hoạt hơn khi bổ sung hình thức “tuyển chọn” bên cạnh “thi tuyển”, cho phép cơ quan có thẩm quyền lựa chọn phương thức phù hợp với tính chất và quy mô của từng dự án. Việc lựa chọn thi tuyển hay tuyển chọn được xác định ngay từ giai đoạn đề xuất chủ trương đầu tư hoặc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, qua đó đưa yêu cầu về kiến trúc vào sớm hơn trong quá trình chuẩn bị dự án.

Bên cạnh đó, phạm vi công trình phải thi tuyển cũng được xác định cụ thể hơn, đồng thời bổ sung một số trường hợp ngoại lệ như công trình thuộc diện bảo vệ bí mật, công trình khẩn cấp, cấp bách hoặc thực hiện theo thủ tục đầu tư đặc biệt. Đáng chú ý, cơ quan có thẩm quyền còn có thể quyết định áp dụng thi tuyển hoặc tuyển chọn đối với các công trình kiến trúc khác nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý không gian, kiến trúc và cảnh quan. Cùng với đó, chi phí giải thưởng được xác định rõ trong tổng mức đầu tư, trong khi yêu cầu công khai thông tin về quá trình và kết quả lựa chọn tiếp tục được duy trì nhằm tăng tính minh bạch.

Rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Kiến trúc hiện hành, Luật Kiến trúc sửa đổi 2026 còn điều chỉnh trực tiếp quy định tại Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15. Theo đó, thời hạn thẩm định quy hoạch được rút xuống còn tối đa 20 ngày kể từ khi cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ. Việc siết chặt thời hạn xử lý cho thấy định hướng cải cách thủ tục hành chính theo hướng giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về kỷ luật và hiệu quả xử lý hồ sơ của cơ quan nhà nước.

Theo đó, các chủ đầu tư, nhà thầu, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và kiến trúc nên chủ động rà soát quy trình nội bộ, năng lực nhân sự và hệ thống quản lý dữ liệu để phù hợp với các yêu cầu mới. Trong đó đặc biệt lưu ý việc chuẩn bị cho ứng dụng công nghệ số và BIM, cập nhật tiêu chuẩn năng lực hành nghề, theo dõi quy chế quản lý kiến trúc tại từng địa phương và xác định sớm hình thức thi tuyển hoặc tuyển chọn phương án kiến trúc đối với dự án có liên quan. Việc thích ứng sớm sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro tuân thủ và bảo đảm tiến độ triển khai dự án khi Luật mới có hiệu lực.

NGUYỄN DANH CÔNG

NGUYỄN DANH CÔNG